Ung thu co tu cung

Ung thư cổ tử cung

Nếu chủ động phòng ngừa, tầm soát và phát hiện sớm, khối u cổ tử cung có thể được chữa khỏi hoàn toàn.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo bệnh ung thư cổ tử cung hiểm nguy và có dấu hiệu ngày càng trẻ hóa. Năm 2019, lần đầu tiên Việt Nam ghi nhận trường hợp một bệnh nhân có cổ tử cung bị khối u khi chỉ mới 14 tuổi.

Theo ThS.BS Đinh Thị Hiền Lê – khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, nếu phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm, ung thư ở cơ quan cổ tử cung có thể chữa khỏi hoàn toàn. Do đó, nữ giới nên chủ động tầm soát định kỳ tại các cơ sở y tế chuyên khoa để phát hiện sớm và điều trị kịp thời, hiệu quả, tránh các biến chứng hiểm nguy, bảo tồn thiên chức làm mẹ.

Ung thư cổ tử cung tiến triển lặng thầm, kéo dài khoảng 10-20 năm, qua nhiều giai đoạn. Một số trường hợp bệnh nhân ung thư cổ tử cung được chẩn đoán mắc bệnh khi 40 tuổi nhưng mầm mống virus HPV đã tồn tại lặng thầm bên trong thân thể từ thời thiếu nữ. Do đó, việc phát hiện càng sớm sẽ góp phần tăng khả năng chữa khỏi bệnh.

ThS.BS Đinh Thị Hiền Lê khuyến cáo phụ nữ nên đến ngay cơ sở chuyên khoa để thăm khám khi có triệu chứng bất thường. Ảnh: Thanh Thúy

ThS.BS Đinh Thị Hiền Lê khuyến cáo phụ nữ nên đến ngay cơ sở chuyên khoa để thăm khám khi có triệu chứng bất thường. Ảnh: Thanh Thúy

Nếu bệnh phát hiện ở giai đoạn tiền ung thư, khả năng sinh sản và tính mệnh của người bệnh được bảo tồn. Tuy nhiên, trường hợp bệnh đã sang giai đoạn tiến triển, việc người bệnh sống bao lâu sẽ phụ thuộc vào giai đoạn cụ thể và quá trình điều trị.

Giai đoạn I: Ở giai đoạn này, tế bào ung thư đã xâm lấn mô chính cổ tử cung, chưa khu trú sang cơ quan khác. Do đó, cách thức điều trị hiệu quả là tiến hành cắt một phần hoặc toàn bộ tử cung hoặc xạ trị, tỷ lệ sống sau 5 năm lên đến khoảng 90%, tuy nhiên có thể tác động đến việc mang thai, tăng nguy cơ dọa sảy thai do hình thành các mô sẹo.

Giai đoạn II: Các tế bào ung thư đã khởi đầu lan đến âm đạo và các mô xung quanh cổ tử cung, do đó cần kết hợp phẫu thuật xạ hóa trị. Tỷ lệ sống sau 5 năm là 50-65%.

Giai đoạn III: Tỷ lệ sống sau 5 năm ở giai đoạn này chỉ khoảng 25-35%.

Giai đoạn IV: Khối u đã lan ra vùng chậu, xâm lấn các cơ quan như bàng quang, trực tràng, di căn đến phổi, gan, xương… Việc điều trị ở giai đoạn này rất khó khăn, cốt yếu là kéo dài thêm thời gian sống cho người bệnh. Tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ còn dưới 15%.

U cổ tử cung có những thể hiện và triệu chứng khác nhau qua từng giai đoạn. Tùy thuộc vào mức độ tiến triển bệnh, sự xâm lấn và di căn của các tế bào ung thư mà sẽ có phác đồ điều trị khác nhau như xạ trị, hóa trị hoặc phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ tử cung, buồng trứng. Do đó, khả năng mang thai, sinh nở của phụ nữ mắc bệnh ung thư ở vùng cổ tử cung sẽ phụ thuộc vào cách thức điều trị. Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, bác sĩ có thể cân nhắc phác đồ điều trị bảo tồn chức năng sinh sản cho người bệnh.

Tầm soát ung thư cổ tử cung

Bệnh lý ung thư cổ tử cung không có triệu chứng rõ ràng, tiến triển lặng thầm nên khó phát hiện và can thiệp kịp thời. Do đó, tầm soát ung thư có ý nghĩa xung yếu, giúp phát hiện sớm những nguy cơ, có biện pháp điều trị kịp thời, đúng cách ngay từ giai đoạn khởi phát. thời khắc tốt nhất để thực hành việc tầm soát sẽ khác nhau ở mỗi người tùy theo sức khỏe, môi trường sống và chế độ sinh hoạt… Chuyên gia khuyến cáo chị em phụ nữ từ 21 tuổi trở lên nên thực hành tầm soát định kỳ theo yêu cầu của từng cách thức, theo chỉ định của bác sĩ.

Phòng xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cho kết quả có độ chính xác cao. Ảnh: Thanh Thúy.

Phòng xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cho kết quả có độ chính xác cao. Ảnh: Thanh Thúy.

ThS.BS Đinh Thị Hiền Lê cho biết, giả dụ trước đây, việc phát hiện các tế bào ung thư đòi hỏi phải thực hành nhiều quá trình phức tạp thì hiện nay, với sự tiến bộ của công nghệ đã giúp việc tầm soát bệnh trở nên dễ dàng hơn. Các cách thức tầm soát ung thư cổ tử cung đang được vận dụng gồm:

Xét nghiệm tế bào Pap smear

cách thức này còn gọi là xét nghiệm Pap hoặc phết tế bào cổ tử cung, thực hành thu thập mẫu tế bào trong tử cung và phân tách để phát hiện ung thư cổ tử cung từ sớm. Bên cạnh đó, Pap smear còn giúp phát hiện những bất thường trong cấu trúc và hoạt động của tế bào tử cung, cảnh báo sớm các nguy cơ bệnh lý trong tương lai.

Xét nghiệm Thinprep

cách thức này lấy một mẫu mô nhỏ ở cổ tử cung cho vào lọ Thinprep (dạng chất lỏng định hình), chuyển vào phòng thí nghiệm và xử lý bằng máy Thinprep một cách tự động. Đây được xem là bước tiến mới so với các cách thức truyền thống, giúp nâng cao chất lượng các mẫu tế bào đã thu thập, đảm bảo độ chính xác của việc tầm soát bệnh lý.

Xét nghiệm HPV

Theo thống kê của WHO, khoảng 99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung đều có sự hiện diện của HPV. Do đó, xét nghiệm HPV giúp phát hiện các virus gây bệnh và có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung trong tương lai, thường vận dụng cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên. Khuyến cáo kết hợp cùng xét nghiệm tế bào Pap smear để có kết quả tổng quan chính xác nhất.

Điều trị ung thư cổ tử cung

Theo ThS.BS Đinh Thị Hiền Lê: “cách thức điều trị khối u cổ tử cung thường là đa mô thức, tức là gồm nhiều phác đồ điều trị khác nhau, chứ không phải ung thư là mổ như nhiều bệnh nhân vẫn đang lầm tưởng. Tùy theo từng giai đoạn bệnh mà sẽ có phác đồ điều trị khác nhau, có thể là phẫu thuật đơn thuần, có thể là xạ trị, cũng có thể là kết hợp giữa phẫu thuật – hóa trị – xạ trị”.

Giai đoạn tiền ung thư

Giai đoạn này, các tế bào bất thường chỉ mới xuất hiện ở mô lót cổ tử cung, chưa xâm lấn sâu và di căn sang các cơ quan khác trong thân thể. Tùy theo độ tuổi và mong muốn có con của người bệnh mà có các cách thức điều trị khác nhau như khoét chóp, LEEP, cắt cụt cổ tử cung. Trường hợp người bệnh lớn tuổi hoặc người bệnh không mong muốn có con nữa thì có thể sử dụng cách thức cắt bỏ tử cung bảo tồn buồng trứng.

Giai đoạn I

Đây là giai đoạn các tế bào ung thư đã khởi đầu xâm lấn đến các mô chính của cổ tử cung, bác sĩ sẽ chỉ định cắt một phần hoặc toàn bộ tử cung, hoặc sử dụng cách thức xạ trị. Tuy nhiên, nhược điểm của cách thức này là có thể để lại sẹo ở cổ tử cung sau phẫu thuật, tác động đến quá trình gặp nhau và thụ thai của trứng và tinh trùng.

Trường hợp cắt bỏ quá nhiều mô ở cổ tử cung, phụ nữ có nguy cơ sảy thai khi mang thai.

Việc cắt bỏ quá nhiều mô ở cổ tử cung có thể gây sảy thai. Ảnh: Shutterstock

Việc cắt bỏ quá nhiều mô ở cổ tử cung có thể gây sảy thai. Ảnh: Shutterstock

Giai đoạn II – III

Các tế bào ung thư đã xâm lấn sâu đến âm đạo và lan rộng khắp vùng thành chậu, do đó cách thức điều trị hiệu quả nhất chính là xạ trị kết hợp hóa trị, tuy nhiên nhược điểm là chẳng thể bảo tồn chức năng sinh sản. Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tử cung và buồng trứng kết hợp thực hành cách thức này.

Giai đoạn IV

Ở giai đoạn IV, các tế bào ung thư đã lan rộng và di căn đến các cơ quan khác trong thân thể như trực tràng, bàng quang, thậm chí là gan, phổi… Việc điều trị ở giai đoạn này khá phức tạp và tốn kém nhiều phí tổn, nhưng cốt yếu là giảm thiểu các triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Phòng ngừa ung thư cổ tử cung

Bác sĩ Hiền Lê cho biết, tiêm vaccine phòng HPV được xem là biện pháp phòng ngừa đơn giản mà hữu hiệu nhất, để giảm nguy cơ mắc bệnh lý ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, vaccine phòng ngừa HPV đã được Bộ Y tế cấp phép có hiệu lực sử dụng từ năm 2007, có khả năng phòng ngừa thương tổn và lây nhiễm gây ra bởi 2 tuýp HPV nguy cơ cao là 16 và 18. Thêm vào đó, vaccine còn giúp phòng ngừa mụn cóc ở cơ quan sinh dục và các bệnh lý ung thư cơ quan sinh dục khác như âm đạo, dương vật, cửa mình, hậu môn…

Khuyến cáo chị em phụ nữ xây dựng đời sống lành mạnh, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HPV – tác nhân dẫn đến u cổ tử cung.

Không nên quan hệ tình dục sớm, nhất là ở độ tuổi vị thành niên vì cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện, còn mẫn cảm.

Phụ nữ lưu ý quan hệ tình dục an toàn, không quan hệ tình dục với nhiều bạn tình vì nguy cơ cao lây nhiễm HPV, đặc biệt là khi bạn tình có nhiều bạn tình khác.

Phụ nữ nên vệ sinh sạch sẽ vùng kín trong các kỳ kinh nguyệt, sau khi quan hệ tình dục…

Bạn đến cơ sở chuyên khoa để thăm khám và điều trị kịp thời khi có những triệu chứng bất thường.

Thúy Nguyễn

Click: Xem thêm

Trả lời