Bo Y te giai trinh viec cham mua vaccine cho

Bộ Y tế giải trình việc chậm mua vaccine cho trẻ em

Hà NộiBộ Y tế vừa được Thủ tướng yêu cầu làm rõ trách nhiệm, kiểm điểm, xử lý tổ chức, cá nhân để chậm trễ mua vaccine cho trẻ từ 5 đến 12 tuổi.

Đây không phải lần đầu tiên Bộ Y tế được yêu cầu báo cáo tiến độ các hợp đồng mua vaccine phòng Covid-19 cho trẻ em. Hôm 11/3, Bộ có văn bản giải trình về vấn đề này.

Theo đó, sau khi Chính phủ ban hành nghị quyết mua vaccine của Pfizer cho trẻ em 5-12 tuổi và vận dụng hình thức lựa chọn nhà thầu, Bộ Y tế đã thương thảo với hãng này. Từ 10/2 đến 10/3, hai bên nhiều lần trao đổi, yêu cầu Pfizer làm rõ một số ý kiến từ đơn vị chuyên môn của Bộ Y tế…

Trong quá trình thương lượng mua 21,9 triệu liều, Bộ Y tế cho biết nhận được thông tin việc Chính phủ Mỹ có khả năng viện trợ vaccine cho Việt Nam, nhưng chưa rõ số lượng và thời gian bàn giao. Bộ Y tế đã làm việc với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Mỹ, đề xuất hỗ trợ tối thiểu 10 triệu liều trong tháng 3 và quý 2.

Vaccine Pfizer tiêm cho trẻ 5-12 tuổi. Ảnh: Pfizer

Vaccine Pfizer tiêm cho trẻ 5-12 tuổi. Ảnh: Pfizer

Bộ Y tế đề xuất Thủ tướng tiếp tục cho bộ làm việc với CDC Mỹ nhận nguồn viện trợ vaccine cho trẻ em, nhằm giảm thiểu nguồn chi từ ngân sách và Quỹ vaccine. Ngay sau khi có xác nhận của CDC Mỹ về số lượng vaccine hỗ trợ, Bộ Y tế sẽ báo cáo Thủ tướng về số lượng đặt mua.

Nếu đến ngày 15/3 phía Mỹ chưa thông tin cụ thể, Bộ Y tế đề xuất người đứng đầu Chính phủ cho phép ký hợp đồng mua 21,9 triệu liều vaccine của Pfizer và từ chối nhận vaccine viện trợ.

Sơn Hà

Click: Xem thêm

Bo Y te Co tinh trang dau co 039thoi039 gia

Bộ Y tế: Có tình trạng đầu cơ, 'thổi' giá kit test nhanh Cov…

Có hiện tượng đầu cơ, đẩy báo giá kit test nhanh Covid-19 bất hợp lý, cơ quan chức năng sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra việc niêm yết báo giá và bán đúng giá niêm yết.

  • 2% trẻ mắc Covid-19 có diễn tiến nặng, thường vào ngày thứ 5 – 8 của bệnh
  • Cách ly tại nhà 5 ngày với F1 tiêm đủ vắc xin Covid-19

Click: Xem thêm

Bo Y te cap phep cho 3 thuoc Molnupiravir noi

Bộ Y tế cấp phép cho 3 thuốc Molnupiravir nội để ‘tự túc’ một phần thu…

3 loại thuốc chứa hoạt chất Molnupiravir hàm lượng 200mg và 400mg, hạn dùng 6 – 8 tháng, cùng sản xuất dạng viên nang cứng tại Việt Nam đã được Cục Quản lý dược, Bộ Y tế cấp giấy phép lưu hành ngày bữa nay 17-2. Giấy phép này có hiệu lực trong 3 năm.

Cùng với quyết định cấp phép lưu hành, Bộ Y tế yêu cầu cơ sở sản xuất và đăng ký thuốc sản xuất theo đúng tài liệu và giấy tờ đã công bố với Bộ Y tế và phải in số đăng ký đã được Bộ Y tế cấp phép lên nhãn thuốc. 

Cục Quản lý dược cũng đề xuất các Sở Y tế giao cơ sở điều trị thông tin cho bệnh nhân lợi ích, rủi ro khi sử dụng thuốc, các cách thức điều trị, các thuốc khác có thể thay thế Molnupiravir trong điều trị COVID-19.

Đồng thời kết hợp với các cơ sở điều trị theo dõi, giám sát, phát hiện, xử trí các trường hợp gặp phản ứng có hại của thuốc về trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại Hà Nội hoặc TP.HCM, và có trách nhiệm theo dõi, cập nhật và báo cáo về Cục Quản lý dược.

Cục Quản lý dược cũng cho biết các trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc có trách nhiệm theo dõi chỉ dẫn sử dụng thuốc của các nước trên thế giới để cập nhật tờ chỉ dẫn sử dụng chung thống nhất cho Molnupiravir tại Việt Nam. 

Đồng thời theo dõi về tác dụng của thuốc được các cơ quan quản lý dược trên thế giới đánh giá và thông tin về tình trạng sử dụng, lưu hành của Molnupiravir trên thế giới.

Khi nào dùng Molnupiravir?

Molnupiravir là thuốc có hiệu quả trên bệnh nhân COVID-19 nhẹ và trung bình. Do đây là thuốc mới nên Thường vụ Quốc hội và Chính phủ đã có nghị quyết và quy chế đặc biệt, nhằm cho phép lưu hành một số thuốc (bao gồm Molnupiravir) và một số vật tư, trang thiết bị để chống dịch COVID-19.

Đã có 10 tổ chức nộp giấy tờ cho Cục Quản lý dược, đây là 3 tổ chức đầu tiên được cấp phép.

Thời gian qua nhu cầu thuốc này tăng cao, một phần do “truyền miệng”, thị trường “chợ đen” đã bán Molnupiravir diện hàng xách tay với giá đắt đỏ, nhiều gia đình thậm chí đã tích trữ thuốc này dự phòng trường hợp mắc COVID-19. 

Trước đó, tại phiên họp giữa tháng 1 vừa qua, Hội đồng tham vấn cấp giấy đăng ký lưu hành  thuốc của Bộ Y tế có thông tin không dùng thuốc Molnupiravir cho phụ nữ có thai, trẻ dưới 18 tuổi do có tác dụng phụ, thuốc cũng tác động đến tinh trùng của nam giới.

Theo thông tin của hội đồng, Molnupiravir được sử dụng để điều trị COVID-19 nhẹ đến trung bình cho người trưởng thành dương tính COVID-19, có ít ra một nhân tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng.

Về giới hạn sử dụng thuốc, hội đồng khuyến cáo Molnupiravir dùng trên bệnh nhân có thời gian khởi phát triệu chứng dưới 5 ngày, không sử dụng quá 5 ngày liên tục, không sử dụng để dự phòng sau hay trước phơi nhiễm để phòng COVID-19.

Đối với phụ nữ có thai và cho con bú, Molnupiravir không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ chuẩn bị mang thai nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Hội đồng cũng cho rằng dựa trên khả năng xảy ra các phản ứng có hại cho trẻ sơ sinh từ Molnupiravir, không khuyến cáo F0 là phụ nữ nuôi con nhỏ cho con bú trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

Click: Xem thêm

Bo Y te de xuat can nhac bo sung quy

Bộ Y tế đề xuất cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường

Ngày 14-2, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn có công văn 628 giải đáp Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch cho ý kiến về dự thảo Công văn tổ chức hoạt động mua bán dịch vụ karaoke , vũ trường (theo công văn số 353/BVHTTDL-VHCS ngày 28-1).

Để đảm bảo công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe người dân, Bộ Y tế đề xuất Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cân nhắc bổ sung vào nội dung dự thảo công văn một số nội dung.

Theo Bộ Y tế, việc hoạt động trở lại các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường cần căn cứ trên kết quả đánh giá cấp độ dịch bệnh tại mỗi địa phương, khu vực có hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 1.

Vũ trường, quán bar trên địa bàn TP HCM được phép hoạt động trở lại từ ngày 10-1. Ảnh: NLĐO

Ngoài ra, nơi thực hành hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường thường là nơi có không gian kín nên dễ xảy ra lây nhiễm Covid-19. Do vậy, theo góp ý của Bộ Y tế, khi hoạt động trở lại cần tăng cường các biện pháp vệ sinh, phòng chống lây nhiễm tại khu vực cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường (khử khuẩn, thông khí,…).

Lưu ý với người tham gia cần thực hành nghiêm 5K, tiêm phòng vắc-xin Covid-19 đủ liều, không cung cấp dịch vụ cho người đang có các triệu chứng mắc Covid-19 (ho, sốt…).

Cũng theo ý kiến của Bộ Y tế, địa phương, nơi cung cấp dịch vụ karaoke, vũ trường cần có kế dự phòng, đáp ứng với các tình huống dịch bệnh có thể xẩy ra trong khu vực cung cấp dịch vụ để khoanh vùng gọn, không để lây lan rộng ra cộng đồng (nếu ghi nhận ổ dịch).

Trước đó, Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch có dự thảo công văn gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương về tổ chức các hoạt động mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau thời gian tạm đóng cửa phòng dịch Covid-19.

Theo đó, cơ quan này đề xuất UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục khai triển có hiệu quả Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19-6-2019 của Chính phủ quy định về mua bán dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.

Xây dựng phương án cho phép các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường được hoạt động trở lại khi đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ.

Bộ này cũng đề xuất các tỉnh, thành tổ chức khai triển phương án kiểm tra, rà soát, thẩm định và chỉ cho phép hoạt động đối với cơ sở mua bán đáp ứng đủ điều kiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động của các đơn vị thích hợp với cấp độ dịch ở địa phương…

Tăng cường công tác thanh tra, quản lý, chỉnh đốn, xử lý các doanh nghiệp, hộ mua bán dịch vụ karaoke, vũ trường không chấp hành các quy định phòng, chống dịch.

Bộ Y tế đề nghị cân nhắc, bổ sung quy định mở lại karaoke, vũ trường - Ảnh 2.



Click: Xem thêm

Bo Y te ban hanh chi dan moi nhat ve

Bộ Y tế ban hành chỉ dẫn mới nhất về triệu chứng lâm sàng của người …

Thứ Tư, ngày 06/10/2021 20:30 PM (GMT+7)

chỉ dẫn “Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng virus SARS-CoV-2” cho biết, thời gian ủ bệnh từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày, thể delta có thời gian ủ bệnh ngắn hơn.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 23:12 06/10/2021

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa nay
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa nay
TỔNG +4.356 818.091 20.063 119
1 TP.HCM +1.960 403.454 15.302 88
2 Bình Dương +852 218.812 2.115 16
3 Đồng Nai +534 52.551 505 2
4 An Giang +180 5.899 77 2
5 Kiên Giang +79 6.012 65 1
6 Long An +74 32.942 434 2
7 Tiền Giang +72 14.303 376 2
8 Bình Thuận +60 3.658 63 0
9 Đắk Lắk +58 2.067 7 0
10 Trà Vinh +52 1.544 17 0
11 Đồng Tháp +47 8.443 259 2
12 Khánh Hòa +47 8.046 99 0
13 Cần Thơ +44 5.855 110 1
14 Tây Ninh +41 7.890 134 2
15 Bạc Liêu +32 505 3 0
16 Hà Nam +25 603 0 0
17 Cà Mau +22 482 9 0
18 Bến Tre +21 1.952 70 0
19 Vĩnh Long +20 2.234 59 0
20 Gia Lai +20 594 3 0
21 Bình Định +18 1.348 13 1
22 Bà Rịa – Vũng Tàu +17 4.254 49 0
23 Ninh Thuận +14 1.050 8 0
24 Hà Nội +9 4.259 56 0
25 Quảng Nam +8 629 5 0
26 Quảng Bình +7 1.729 5 0
27 Quảng Ngãi +7 1.247 4 0
28 Đắk Nông +7 735 1 0
29 Thừa Thiên Huế +5 831 11 0
30 Nghệ An +5 1.887 17 0
31 Bình Phước +5 1.421 8 0
32 Kon Tum +4 43 0 0
33 Nam Định +2 66 1 0
34 Thanh Hóa +2 450 4 0
35 Phú Yên +1 3.059 34 0
36 Đà Nẵng +1 4.924 73 0
37 Hà Tĩnh +1 457 5 0
38 Ninh Bình +1 81 0 0
39 Lạng Sơn +1 213 1 0
40 Sơn La +1 253 0 0
41 Hòa Bình 0 16 0 0
42 Thái Nguyên 0 15 0 0
43 Hải Phòng 0 27 0 0
44 Điện Biên 0 61 0 0
45 Hà Giang 0 28 0 0
46 Yên Bái 0 3 0 0
47 Vĩnh Phúc 0 234 3 0
48 Quảng Ninh 0 15 0 0
49 Bắc Kạn 0 5 0 0
50 Lai Châu 0 1 0 0
51 Tuyên Quang 0 2 0 0
52 Hải Dương 0 172 1 0
53 Bắc Giang 0 5.839 14 0
54 Lâm Đồng 0 292 0 0
55 Quảng Trị 0 282 1 0
56 Hậu Giang 0 604 2 0
57 Phú Thọ 0 49 0 0
58 Sóc Trăng 0 1.292 25 0
59 Thái Bình 0 76 0 0
60 Hưng Yên 0 296 1 0
61 Bắc Ninh 0 1.896 14 0
62 Lào Cai 0 104 0 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 06/10/2021

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Ngày 6/10, Bộ Y tế ban hành “chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19”. chỉ dẫn mới nhất này sẽ thay thế chỉ dẫn do Bộ Y tế ban hành hồi tháng 7/2021.

Về triệu chứng lâm sàng của người mắc COVID-19

chỉ dẫn “Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng virus SARS-CoV-2” cho biết, thời gian ủ bệnh từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày, thể delta có thời gian ủ bệnh ngắn hơn.

Bộ Y tế ban hành hướng dẫn mới nhất về triệu chứng lâm sàng của người mắc COVID-19 - 1

Bệnh nhân đang điều trị COVID-19 tại bệnh viện. 

Ở giai đoạn khởi phát: Chủng alpha có các biểu hiiện sốt, ho khan, mệt mỏi, đau họng, đau đầu. Một số trường hợp bị nghẹt mũi, chảy nước mũi, mất vị giác và khứu giác, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng…

Chủng mới (delta): đau đầu, đau họng, chảy nước mũi, ho, sốt, tiêu chảy, khó thở, đau cơ.

Diễn biến:

– Đối với thể alpha, 80% bệnh nhân COVID-19 có triệu chứng nhẹ, 20% bệnh nhân diễn biến nặng và diễn biến nặng thường khoảng 5-10 ngày và 5% cần phải điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với biểu hiện suy hô hấp cấp, tổn thương phổi do COVID-19, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng, suy chức năng cơ quan bao gồm tổn thương thận cấp, tổn thương não, tổn thương tim và dẫn đến tử vong.

– Đối với thể delta, tỉ lệ nhập viện cấp cứu 5,7% (cao hơn 4.2% alpha), tỉ lệ nhập viện, nhập ICU và tử vong tăng hơn trước. Ngoài ra chủng delta liên quan đến tăng mức độ nặng của bệnh biểu hiện bởi tăng nhu cầu oxy, nhập ICU hoặc tử vong so với những chủng khác. Ngoài ra chủng delta có tải lượng vi rút cao hơn 1.260 lần so với 19A/19B và khả năng lây cao hơn 15-20% so với chủng khác.

Giai đoạn hồi phục của bệnh nhân COVID-19

– Đối với trường hợp nhẹ và trung bình, sau 7-10 ngày, bệnh nhân hết sốt, toàn trạng khá lên, tổn thương phổi tự hồi phục, có thể gặp mệt mỏi kéo dài.

– Những trường hợp nặng: Biểu hiện lâm sàng kéo dài, hồi phục từ 2-3 tuần, mệt mỏi kéo dài đến hàng tháng.

– Những trường hợp nguy kịch có thể phải nằm hồi sức kéo dài nhiều tháng, có thể tiến triển xơ phổi, ảnh hưởng tâm lý, yếu cơ kéo dài.

– Một số trường hợp sau nhiễm SARS-CoV-2, gặp các rối loạn kéo dài: bệnh lý tự miễn, hội chứng thực bào…

Về thuốc điều trị cho bệnh nhân COVID-19

– Nếu là thuốc chưa được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng, chưa được cấp phép lưu hành, chưa được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại bất kỳ nước nào trên thế giới, việc sử dụng phải tuân thủ các quy định về thử nghiệm lâm sàng của Bộ Y tế.

– Nếu là thuốc đã được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng hoặc được cấp phép lưu hành, hoặc được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại ít nhất 1 nước trên thế giới thì có thể được chỉ định điều trị theo diễn biến bệnh lý của người bệnh (ví dụ: thuốc remdesivir, favipiravir,…).

Tiêu chuẩn xuất viện của bệnh nhân COVID-19

Đối với các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng trong suốt thời gian điều trị được ra viện khi đã được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID- 19 tối thiểu 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ vi rút thấp (Ct ≥ 30) vào ngày thứ 9.

Đối với các trường hợp có triệu chứng lâm sàng được ra viện khi đủ các điều kiện sau: Được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 tối thiểu 14 ngày; Các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên; Có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 hoặc nồng độ vi rút thấp (Ct ≥ 30) vào trước ngày ra viện.

Đối với các trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR nhiều lần có nồng độ vi rút CT< 30 được ra viện đủ các điều kiện sau: Đã được cách ly điều trị tại cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 đủ 21 ngày tính từ ngày có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2; Các triệu chứng lâm sàng hết trước ngày ra viện từ 3 ngày trở lên.

Người được ra viện sẽ được giám sát tại nhà bởi y tế cơ sở và CDC địa phương. Người bệnh sau khi ra viện cần ở tại nhà và tự theo dõi trong 7 ngày (chỉ dẫn trước là cách ly 14 ngày). Đo thân nhiệt 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở hai lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào thì cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời. Tuân thủ thông điệp 5K.

Đối với người bệnh ra viện thuộc trường hợp cách ly điều trị trên 10 ngày và có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp real-time RT-PCR nhiều lần có nồng độ vi rút Ct < 30, sau khi ra viện yêu cầu người bệnh thực hiện cách ly y tế tại nhà trong 7 ngày.

Đo thân nhiệt 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38 độ C ở hai lần đo liên tiếp hoặc có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường nào thì cần báo cho y tế cơ sở để thăm khám và xử trí kịp thời.


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-ban-hanh-huong-dan-moi-nhat-ve-trieu-chung-lam-sang-cua-nguoi-mac-covi…

Bộ Y tế hỏa tốc đề nghị Hà Nội hỗ trợ BV Việt Đức chống dịch COVID-19

Tối 1/10, Bộ Y tế có công văn hỏa tốc gửi UBND TP.Hà Nội về việc hỗ trợ công tác phòng chống dịch tại Bệnh viện…

Click: Xem thêm

Bo Y te phan bo gan 1 trieu lieu vac xin

Bộ Y tế phân bổ gần 1 triệu liều vắc-xin Pfizer, Hà Nội nhận hơn 60.00…

Thứ Tư, ngày 06/10/2021 06:51 AM (GMT+7)

Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương phân bổ 992.160 liều vắc-xin Pfizer cho các tỉnh thành, công an, quân đội và bệnh viện cả nước.

Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương vừa có Quyết định số 1200/QĐ-VSDTTƯ phân bổ đợt thứ 55 với gần 1 triệu liều vắc-xin Pfizer cho 13 địa phương, 18 bệnh viện, viện thuộc trung ương, các đơn vị, ngành trong cả nước. Số vắc-xin này được mua từ nguồn ngân sách nhà nước.

Bộ Y tế phân bổ gần 1 triệu liều vắc-xin Pfizer, Hà Nội nhận hơn 60.000 liều - 1

Vắc-xin Pfizer.

Theo đó, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội được phân bổ hơn 60.000 liều. Ngoài ra, 18 bệnh viện, viện, đơn vị trung ương trên địa bàn Hà Nội tiếp thu hơn 77.000 liều.

Thành phố Hồ Chí Minh được phân bổ 170.820 liều. Số vắc-xin này được cấp phát về Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hồ Chí Minh và 5 bệnh viện, viện trung ương trên địa bàn thành phố.

Còn lại các địa phương khác như tỉnh Bình Dương nhận 175.500 liều; Đồng Nai được phân bổ gần 99.500 liều; Đà Nẵng và Khánh Hòa cùng nhận 52.650 liều; An Giang, Kiên Giang nhận 46.800 liều; Tiền Giang, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và Phú Yên nhận 29.250 liều. Địa phương còn lại là Cần Thơ nhận 46.800 liều.

Cùng với đó, trong đợt phân bổ này, lực lượng công an và quân đội nhận hơn 41.000 liều vắc-xin.

Đến nay, Việt Nam đã tiếp thu hơn 61 triệu liều vắc-xin phòng COVID-19 các loại. Trong đó, hiện hơn 56 triệu liều đã được phân bổ cho các địa phương, đơn vị.

Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-phan-bo-gan-1-trieu-lieu-vac-xin-pfizer-ha-noi-nhan-hon-60000-lieu-502…

Vắc-xin Sputnik V sẽ được sử dụng trong tuần này

Gần 740.000 liều vắc-xin COVID-19 Sputnik V có hạn đến 30/10 sẽ được chuyển tới các điểm tiêm chủng để sử dụng ngay…

Click: Xem thêm

Bo Y te yeu cau ung pho voi bien chung

Bộ Y tế yêu cầu ứng phó với biến chủng mới có thể lây lan nhanh hơn 50…

Thứ Ba, ngày 30/11/2021 07:50 AM (GMT+7)

Bộ Y tế cho biết, tại Việt Nam đến nay qua giám sát dịch tễ của virus SARS-CoV-2 hiện chưa ghi nhận trường hợp mắc COVID-19 với biến chủng mới Omicron.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 09:18 30/11/2021

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa qua
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa qua
TỔNG +13.758 1.218.886 25.020 173
1 TP.HCM +1.554 468.961 17.824 62
2 Hà Nội +429 10.113 64 0
3 Cần Thơ +913 16.835 224 10
4 Tây Ninh +719 27.664 262 8
5 Bình Dương +697 281.658 2.702 22
6 Bà Rịa – Vũng Tàu +648 14.699 62 0
7 Đồng Tháp +608 21.368 315 6
8 Sóc Trăng +588 14.612 102 2
9 Bình Thuận +576 16.393 125 2
10 Trà Vinh +560 7.858 36 2
11 Vĩnh Long +559 10.765 101 7
12 Đồng Nai +548 86.679 736 12
13 Bạc Liêu +544 13.374 119 1
14 Bình Phước +516 7.245 17 0
15 Kiên Giang +443 19.696 215 7
16 Cà Mau +396 8.621 42 3
17 An Giang +375 22.504 360 10
18 Bến Tre +335 7.353 84 1
19 Khánh Hòa +308 13.030 110 1
20 Hậu Giang +294 4.967 12 1
21 Bình Định +195 4.060 20 0
22 Lâm Đồng +174 2.431 7 0
23 Hà Giang +163 4.209 4 0
24 Bắc Ninh +145 4.677 14 0
25 Nghệ An +143 4.425 27 0
26 Long An +122 38.088 611 5
27 Thừa Thiên Huế +119 3.202 11 0
28 Đắk Nông +88 2.319 9 1
29 Thanh Hóa +87 2.351 10 0
30 Quảng Nam +84 2.840 5 0
31 Hải Dương +69 817 1 0
32 Đà Nẵng +65 5.947 74 0
33 Ninh Thuận +56 3.803 44 0
34 Nam Định +55 1.442 1 0
35 Phú Thọ +54 1.854 0 0
36 Vĩnh Phúc +50 1.178 3 0
37 Tiền Giang +50 24.313 548 10
38 Quảng Ngãi +47 2.705 11 0
39 Hòa Bình +46 384 0 0
40 Thái Nguyên +39 299 0 0
41 Hải Phòng +36 385 0 0
42 Phú Yên +35 3.648 34 0
43 Tuyên Quang +30 495 0 0
44 Gia Lai +26 3.192 8 0
45 Hưng Yên +22 736 2 0
46 Lạng Sơn +20 445 2 0
47 Quảng Bình +18 2.516 6 0
48 Quảng Trị +18 963 2 0
49 Yên Bái +17 71 0 0
50 Cao Bằng +13 133 0 0
51 Hà Nam +11 1.452 0 0
52 Bắc Giang +11 6.950 15 0
53 Quảng Ninh +9 676 0 0
54 Ninh Bình +9 243 0 0
55 Kon Tum +7 389 0 0
56 Thái Bình +7 1.240 0 0
57 Điện Biên +4 457 0 0
58 Lào Cai +3 187 0 0
59 Sơn La +1 367 0 0
60 Bắc Kạn 0 18 0 0
61 Hà Tĩnh 0 1.017 5 0
62 Lai Châu 0 36 0 0
63 Đắk Lắk 0 7.531 34 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 30/11/2021

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Trước sự đe dọa của biến chủng mới Omicron của virus SARS-CoV-2, ngày 29/11, Bộ Y tế chỉ đạo các địa phương chủ động xây dựng kịch bản đáp ứng với các tình huống dịch COVID-19 trên địa bàn cụ thể, chi tiết, khả thi và đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, cần bám sát ý kiến tiếp cận toàn dân, lấy người dân và doanh nghiệp làm chủ thể, trung tâm và lấy cấp cơ sở làm nền tảng trong phòng, chống dịch.

Bộ Y tế yêu cầu ứng phó với biến chủng mới có thể lây lan nhanh hơn 500% biến chủng Delta - 1

(Ảnh minh họa). 

Địa phương chủ động xây dựng kịch bản đáp ứng với các tình huống dịch COVID-19 trước biến chủng Omicron của virus SARS-CoV-2; Chỉ đạo các địa phương tăng cường giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc COVID-19 tại cộng đồng, các trường hợp có thể hiện ho, sốt để kịp thời khoanh vùng, cách ly, xử lý triệt để ổ dịch không để lây lan, bùng phát rộng; đồng thời khai triển tốt các hoạt động y tế, tránh lây nhiễm chéo trong khu vực cách ly, khu phong tỏa.

Liên quan đến biến chủng này, ngày 28/11, Bộ Y tế cho biết, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thông tin ghi nhận biến chủng mới đáng lo ngại của virus SARS-CoV-2, được gọi là Omicron (B.1.1.529) được phát hiện tại một số quốc gia Nam Châu Phi như Nam Phi, Botswana…

Theo các nhà khoa học, biến chủng Omicron được phát hiện lần đầu ở Botswana ngày 24/11/2021 và có tới 32 đột biến ở protein gai, là biến thể nhiều đột biến nhất của vi rút SARS-CoV-2 và được dự báo có thể lây lan nhanh hơn, nguy cơ tái nhiễm cao hơn các biến chủng khác (biến chủng Omicron có thể lây lan nhanh hơn 500% biến chủng Delta).

Đến ngày 29/11, Việt Nam chưa ghi nhận biến thể này. Để chủ động ứng phó và kiểm soát tình hình dịch COVID-19 trong nước và đồng thời ngăn chặn nguy cơ xâm nhập và lây lan của biến chủng mới Omicron vào nước ta từ các quốc gia đã ghi nhận và lây lan biến chủng mới, ngày 28/11, Bộ Y tế đã đề xuất Chính phủ xuất coi xét chỉ đạo tạm dừng tổ chức các chuyến bay quốc tế đến và đi từ các quốc gia: Nam Phi, Botswana, Namibia, Zimbabwe, Eswatini, Lesotho, Mozambique và tạm dừng cấp phép nhập cảnh với hành khách đến/đi về từ các quốc gia trên.

Bộ Y tế cũng đã chỉ đạo hệ thống giám sát tăng cường giám sát dịch COVID-19 nhằm phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường của các ổ dịch COVID-19; Yêu cầu các Viện Vệ sinh dịch tễ/ Pasteur chủ động thực hành giải trình tự gien các trường hợp nghi ngờ nhiễm biến chủng mới, đặc biệt là những trường hợp có tiền sử dịch tễ về từ các quốc gia khu vực Nam Phi.

TS Nguyễn Văn Kính, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Chủ tịch Hội lây nhiễm Việt Nam cho biết, đến nay những điều thế giới biết về biến chủng Omicron này còn rất ít, chính yếu ghi nhận ở các nước nam châu Phi. Chúng ta thấy nó có nhiều đột biến hơn rất nhiều so với biến thể Delta, nhưng chưa có dữ liệu về dịch tễ, khả năng lây lan cũng như độc lực của virus.

“Virus luôn luôn đột biến. Vì thế 5K- khẩu trang, khử khuẩn, khoảng cách, không tập trung và khai báo y tế là xung yếu nhất. Bên cạnh đó, là tiêm vắc-xin phòng COVID-19”, TS Kính nhấn mạnh.


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-yeu-cau-ung-pho-voi-bien-chung-moi-co-the-lay-lan-nhanh-hon-500-bien-c…

Bộ Y tế thông tin về biến chủng mới có thể lây lan nhanh hơn 500% biến chủng Delta

Theo Bộ Y tế, WHO vừa thông tin ghi nhận biến chủng mới đáng lo ngại của vi rút SARS-CoV-2, được gọi là Omicron (B.1.1.529),…

Click: Xem thêm

Bo Y te lo ngai dich chong dich trong thoi

Bộ Y tế lo ngại dịch chồng dịch trong thời gian sắp tới

Thứ Tư, ngày 24/11/2021 19:00 PM (GMT+7)

Theo Bộ Y tế, nguy cơ dịch bệnh bùng phát là rất lớn nếu không quyết liệt khai triển các biện pháp phòng chống dịch.

Số ca mắc COVID-19 trong nước từ 27/04/2021

Xem thêm số liệu dịch COVID-19 >

Nguồn: Bộ Y tế – Cập nhật lúc 20:41 24/11/2021

STT Tỉnh thành Ca nhiễm mới
bữa nay
Tổng Ca
nhiễm
Ca tử
vong
Ca tử vong
công bố bữa nay
TỔNG +11.789 1.150.625 24.208 125
1 TP.HCM +1.666 460.789 17.506 62
2 Hà Nội +274 8.580 64 0
3 Cần Thơ +766 12.364 189 3
4 Tây Ninh +754 21.239 221 3
5 Bình Dương +696 278.155 2.643 15
6 Đồng Tháp +625 18.354 295 3
7 Bà Rịa – Vũng Tàu +586 11.512 60 0
8 Đồng Nai +580 83.912 692 11
9 Vĩnh Long +482 8.095 81 0
10 Bình Thuận +470 13.759 101 2
11 Sóc Trăng +425 12.105 84 4
12 Bạc Liêu +418 10.561 101 2
13 Kiên Giang +369 17.572 181 5
14 Bến Tre +300 5.329 79 0
15 Trà Vinh +299 6.367 29 2
16 Bắc Ninh +241 3.935 14 0
17 Cà Mau +224 6.755 34 5
18 Hậu Giang +198 3.615 9 1
19 Khánh Hòa +183 11.818 106 1
20 An Giang +181 20.955 302 0
21 Đắk Lắk +152 7.182 29 1
22 Bình Phước +145 5.386 15 1
23 Hà Giang +144 3.518 3 1
24 Vĩnh Phúc +133 850 3 0
25 Bình Định +133 3.184 19 0
26 Nghệ An +132 3.853 24 0
27 Thanh Hóa +98 2.014 10 0
28 Quảng Nam +97 2.446 5 0
29 Đắk Nông +94 1.913 8 0
30 Long An +90 37.571 581 2
31 Thừa Thiên Huế +82 2.632 11 0
32 Hòa Bình +63 161 0 0
33 Đà Nẵng +60 5.592 74 0
34 Tiền Giang +60 23.741 499 0
35 Nam Định +56 1.238 1 0
36 Quảng Ngãi +50 2.452 10 0
37 Ninh Thuận +47 3.581 44 1
38 Thái Bình +45 1.082 0 0
39 Hải Phòng +36 193 0 0
40 Quảng Trị +35 812 2 0
41 Phú Yên +33 3.500 34 0
42 Tuyên Quang +29 353 0 0
43 Gia Lai +29 2.820 8 0
44 Phú Thọ +26 1.655 0 0
45 Lâm Đồng +24 1.618 7 0
46 Hà Nam +24 1.395 0 0
47 Hải Dương +24 655 1 0
48 Quảng Ninh +22 580 0 0
49 Hà Tĩnh +22 899 5 0
50 Bắc Giang +20 6.883 15 0
51 Cao Bằng +11 95 0 0
52 Hưng Yên +8 605 2 0
53 Thái Nguyên +8 116 0 0
54 Điện Biên +7 416 0 0
55 Ninh Bình +5 211 0 0
56 Kon Tum +5 374 0 0
57 Lào Cai +1 174 0 0
58 Bắc Kạn +1 12 0 0
59 Lai Châu +1 36 0 0
60 Yên Bái 0 33 0 0
61 Quảng Bình 0 2.331 6 0
62 Sơn La 0 352 0 0
63 Lạng Sơn 0 340 1 0


Tình hình tiêm chủng vaccine ở Việt Nam

Xem thêm số liệu vaccine COVID-19 >

Nguồn: Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 – Cập nhật lúc 00:00 24/11/2021

Số mũi đã tiêm toàn quốc


Bộ Y tế vừa có công văn gửi UBND các tỉnh thành về việc tăng cường phòng chống dịch COVID-19 và dịch bệnh mùa đông xuân năm 2021-2022.

Trong thời gian gần đây sau khi thực hành nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội, đã có một số lượng người dân di chuyển về các địa phương từ vùng dịch COVID-19. Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu mùa đông xuân sắp tới cũng rất tiện lợi cho các dịch bệnh lây truyền phát sinh và phát triển, đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường hô hấp, đường tiêu hóa.

Bộ Y tế lo ngại dịch chồng dịch trong thời gian sắp tới - 1

Xét nghiệm COVID-19. (Ảnh minh họa). 

Vì thế, nguy cơ dịch bệnh bùng phát là rất lớn nếu không quyết liệt khai triển các biện pháp phòng chống dịch.

Để kiểm soát hiệu quả dịch bệnh lây truyền trong mùa đông xuân, không để dịch chồng dịch, Bộ Y tế đề xuất các địa phương thực hành nghiêm Nghị quyết 128 về “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” và Quyết định 4800 của Bộ Y tế. Theo đó, cần khai triển quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa đông xuân, chú trọng triển đến các vùng sâu, vùng xa, vùng khó tiếp cận dịch vụ y tế , vùng đồng bào dân tộc sinh sống, khu vực di biến động về dân cư, có ổ dịch cũ và nơi có tỷ lệ tiêm chủng chưa cao.

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hành nghiêm những biện pháp phòng, chống dịch như giám sát phát hiện sớm, xét nghiệm nhanh, cách ly kịp thời, điều trị hiệu quả… gắn với thực hành tốt việc khôi phục, phát triển kinh tế xã hội.

Các địa phương cần chủ động xây dựng kịch bản đáp ứng với các tình huống dịch bệnh trên địa bàn cụ thể, chi tiết, khả thi và đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19. Trong đó, Bộ Y tế tiếp tục yêu cầu đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng, bao phủ vắc-xin cho người dân; nâng cao năng lực hệ thống y tế; chuẩn bị sẵn sàng thiết lập các trạm y tế lưu động… thực hành nới lỏng, khôi phục hoạt động sản xuất mua bán, mở cửa lại nền kinh tế có lộ trình và ở những nơi an toàn, có đủ điều kiện.

Bộ Y tế cũng lưu ý các địa phương khi khai báo lấy mã số bệnh nhân cần cung cấp đầy đủ thông tin bệnh nhân bao gồm tiền sử tiêm vắc-xin phòng COVID-19 (tiêm một mũi, 2 mũi, chưa tiêm).

Các tỉnh thành cũng cần tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, nhất là tại bệnh viện, cơ sở sản xuất, chợ, siêu thị, nhà ga, phi trường, bến xe… đẩy mạnh tuyên truyền người dân tiếp tục thực hành 5K, không vì đã tiêm vắc-xin mà lơ là, chủ quan; xử lý nghiêm vi phạm về phòng, chống dịch.

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết, khai triển chiến dịch diệt muỗi, diệt lăng quăng (bọ gậy) trên địa bàn nguy cơ cao, đặc biệt tại các công trường xây dựng, nhà trọ.

Đối với các bệnh dịch có vắc-xin phòng bệnh như sởi, rubella, ho gà khẩn trương khai triển công tác tiêm chủng, rà soát đối tượng tiêm chủng; tổ chức ngay các chiến dịch tiêm phòng sởi, rubella, ho gà cho các đối tượng chưa tiêm hoặc hoãn tiêm, đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt ít ra 95% theo quy mô xã, phường.

Sở Y tế khai triển quyết liệt công tác kiểm soát dịch bệnh, tăng cường các hoạt động giám sát, phát hiện sớm, đáp ứng ngay, xử lý triệt để ổ dịch, không để lan rộng và kéo dài tại cộng đồng; tập trung khai triển công tác tiêm chủng…


Nguồn: http://danviet.vn/bo-y-te-lo-ngai-dich-chong-dich-trong-thoi-gian-sap-toi-502021241118583424.htm

Năng lực cung cấp oxy y tế của Việt Nam có đáp ứng nhu cầu điều trị khi số ca COVID-19 gia tăng?

Theo lãnh đạo Bộ Y tế, các cơ sở sản xuất, cung ứng oxy trên cả nước tạm thời cung ứng đủ oxy y tế. Tuy nhiên, nếu…

Click: Xem thêm

Bo Y te thuc giuc rut ngan khoang cach 2

Bộ Y tế thúc giục rút ngắn khoảng cách 2 mũi tiêm vaccine AstraZeneca

Bộ Y tế đề xuất các sở y tế khẩn trương báo cáo UBND tỉnh, thành phố coi xét, phê chuẩn về thời gian tiêm vaccine mũi 2 cho người đã tiêm mũi 1 bằng vaccine AstraZeneca.

Yêu cầu được Bộ Y tế nêu trong công văn gửi các địa phương về việc rút ngắn khoảng cách giữa hai mũi tiêm vaccine Covid-19, ngày 19/11.

Hôm 20/9 Bộ Y tế đã cho phép các địa phương tự quyết định việc rút ngắn khoảng cách 2 mũi tiêm vaccine AstraZeneca, song phải dựa trên khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhà sản xuất. Bộ Y tế không nêu rõ cho phép rút ngắn khoảng cách hai mũi tiêm là bao lâu.

Tuy nhiên, thời gian qua, Bộ nhận được công văn từ một số tỉnh, thành phố xin rút ngắn khoảng cách tiêm mũi 2 đối với người đã tiêm mũi 1 bằng vaccine AstraZeneca. Để kịp thời khai triển tiêm chủng, Bộ Y tế đề xuất Giám đốc Sở Y tế căn cứ theo chỉ dẫn hồi tháng 9 của Bộ, báo cáo UBND các tỉnh thành, coi xét, phê chuẩn về thời gian tiêm vaccine mũi 2 cho người đã tiêm mũi 1 bằng vaccine AstraZeneca.

Đơn vị, địa phương nào không thực hành, liên quan đến tiến độ tiêm chủng phải chịu trách nhiệm, theo công văn Bộ.

Tiêm vaccine Astrazeneca ở Hà Nội. Ảnh: Giang Huy

Tiêm vaccine Astrazeneca ở Hà Nội. Ảnh: Giang Huy

Theo công văn ngày 20/9, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế căn cứ khuyến cáo của WHO, chỉ dẫn của nhà sản xuất và Bộ Y tế về tiến độ tiêm chủng, hiệu lực bảo vệ khi tiêm mũi 2, để tham mưu UBND tỉnh, thành phố về khoảng cách giữa 2 mũi tiêm vaccine AstraZeneca. Sau khi được UBND địa phương chấp thuận rút ngắn thời gian khoảng cách giữa hai mũi tiêm, Sở Y tế lập kế hoạch, lên danh sách người tiêm, thông tin đầy đủ cho người dân về hiệu quả, tính an toàn để biết nếu đồng thuận tiêm.

Trước công văn này, Long An và TP HCM đề xuất rút ngắn khoảng cách tiêm mũi 2 đối với người đã tiêm mũi 1 bằng vaccine Astrazeneca. Thời gian giữa hai mũi tiêm do TP HCM đề xuất là 6 tuần, thay vì 8-12 tuần như chỉ dẫn chung.

Sở Y tế Hà Nội tuần trước đã đồng ý với đề xuất của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật phương án rút khoảng cách giữa 2 mũi vaccine AstraZeneca còn tối thiểu 4 tuần. Trước đó, người đã tiêm mũi một vaccine AstraZeneca ở Hà Nội phải chờ tới 8 tuần trở lên mới tiêm mũi hai.

AstraZeneca là vaccine Covid-19 đầu tiên được cấp phép và sử dụng tại Việt Nam. Hiện, chiến dịch tiêm chủng tại Việt Nam đang sử dụng chính yếu loại vaccine này. Theo Bộ Y tế, chỉ dẫn sử dụng của nhà sản xuất vaccine AstraZeneca là sau khi tiêm mũi một, từ ngày thứ 22 hiệu lực bảo vệ của vaccine đạt 69,2%; sau khi tiêm mũi hai dưới 6 tuần đạt 55,1%; sau 6-8 tuần đạt 59,7% và sau 12 tuần đạt 80%.

Mũi thứ hai nên được tiêm trong khoảng 4-12 tuần sau tiêm mũi một, theo nhà sản xuất. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo khoảng cách giữa hai mũi tiêm vaccine AstraZeneca từ 8 đến 12 tuần. Tại Việt Nam, Bộ Y tế chỉ dẫn tiêm mũi hai vaccine AstraZeneca sau 8-12 tuần kể từ ngày được tiêm mũi một.

Tính đến tối 19/11, cả nước tiêm được tiêm là 104,7 triệu liều, trong đó tiêm 1 mũi là 66,1 triệu liều, tiêm mũi 2 là 38,6 triệu liều.

Click: Xem thêm