Ổn định kinh tế vĩ mô Quý I năm 2019

Kinh tế vĩ mô trong quý I năm 2019 tiếp tục duy trì ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 2,63% so với cùng kỳ và là mức tăng bình quân quý I thấp nhất trong 3 năm gần đây. Tình hình tài chính – tiền tệ ổn định, chính sách điều hành của Chính phủ và NHNN hỗ trợ mạnh cho việc ổn định thị trường tài chính, tiền tệ. Thu, chi ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực.

Lạm phát trung bình quí I tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số giá tiêu dùng tính đến hết tháng 3 tăng 0,69% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ(*), trong đó CPI cơ bản tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân CPI quí I tăng chủ yếu do hai tháng đầu năm là thời điểm trùng với dịp tết Nguyên đán, nên nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ sản xuất, chế biến cho dịp Tết cũng như dịch vụ giao thông công cộng tăng cao (**). Những nhóm hàng có chỉ số giá trong quý I tăng cao so với cùng kỳ năm trước là nhóm hàng thực phẩm và nhóm giáo dục tăng hơn 6%, đồ dùng và dịch vụ khác tăng hơn 2%.

Mặt khác, việc điều chỉnh giá xăng dầu giảm trong những tháng đầu năm cũng góp phần kiềm chế CPI. Giá điện tăng lên 8,36% trong tháng 3 chưa tác động tới CPI tháng 3 và cả quý I/2019. Đáng chú ý, giá lương thực thực phẩm tháng 3 giảm mạnh, phần lớn do dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng trong Tết giảm. Những nhóm hàng khác có chỉ số giá giảm trong quý I so với cùng kỳ năm trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế (giảm -0,2%), nhóm giao thông (giảm -1,67%).

Tính đến hết quí I, chỉ số giá tiêu dùng bình quân quí I tăng 2,63%, thấp hơn mức tăng so với quí I năm trước (2,82%). Tuy nhiên, trong thời gian tới, tốc độ tăng giá có thể nhanh hơn do tác động của việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế, những diễn biến khó lường của giá xăng dầu trên thị trường quốc tế và dịch tả lợn Châu Phi.

Hình 1: CPI 3 tháng đầu năm qua các năm

Nguồn: GSO

Tài chính – tiền tệ

– Chính sách điều hành của Chính phủ và NHNN hỗ trợ mạnh cho việc ổn định thị trường tài chính, tiền tệ: Ngay từ đầu năm, với việc ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP, Chính phủ và NHNN thống nhất quan điểm sử dụng chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhất quán mục tiêu xuyên suốt là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Theo đó, trong trong quý I/2019, thị trường tiền tệ diễn biến khá tích cực với thanh khoản ổn định, dữ trữ ngoại hối tiếp tục gia tăng, tỷ giá VND/USD gặp thuận lợi với việc giải ngân FDI cao, các ngân hàng thương mại tích cực bán USD cho Ngân hàng Nhà nước và mặt bằng lãi suất chỉ biến động nhẹ.

– Lãi suất chỉ biến động nhẹ:

Diễn biến đáng chú ý trong quý I/2019 là hiện tượng ngay sau Tết nguyên đán, lãi suất huy động có diễn biến trái ngược nhau ở các phân khúc NHTM. Tại các NHTM tầm trung trở xuống, lãi suất huy động có xu hướng tăng (khoảng 0,3 điểm % ở hầu hết các kỳ hạn). Mức lãi suất huy động ở các ngân hàng này giao động trong khoản 6,3-7,5% đối với các NH tầm trung, và từ trên 7,5% đến 8,7%/năm đối với các ngân hàng nhỏ (***). Trong khi đó, các NHTM cổ phần nhà nước (như: Vietinbank, BIDV, Vietcombank,…) và một số ngân hàng lớn khác giảm lãi suất huy động (từ 0,1 đến 0,3 điểm %) ở nhiều kỳ hạn(****). Mức lãi suất huy động ở nhóm các ngân hàng TMCP nhà nước tối đa ở mức 5,5%/năm.

Việc lãi suất huy động biến động trái chiều ở các nhóm ngân hàng một mặt phản ánh sự khác biệt về khả năng và nhu cầu huy động vốn của các tổ chức tín dụng hoặc có thể xuất phát từ định hướng điều chỉnh danh mục vốn, cơ cấu lại dòng tiền gửi và dòng vốn cho vay của các ngân hàng để đáp ứng yêu cầu tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của từng ngân hàng; mặt khác cũng cho thấy rõ ý chí, định hướng điều hành của NHNN, vai trò của các NHTM cổ phần nhà nước trong việc ổn định thị trường, ổn định lãi suất.

Ở phía điều hành của NHNN, cùng với hoạt động hút ròng tiền đồng, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm mạnh ngay sau Tết (so với 2 tháng trước đó) ở các kì hạn: qua đêm, 1 tuần và 2 tuần với biên độ từ 0,34 đến 0,41 điểm %. Cụ thể, lãi suất trung bình kì hạn qua đêm giảm 0,41 điểm % về mức 4,7%/năm. Lãi suất trung bình kì hạn 1 tuần giảm 0,375 điểm % xuống mức 4,475%/năm. Lãi suất trung bình kì hạn 2 tuần giảm 0,34 điểm % về mức 4,55%/năm. Với động thái này, cùng với việc duy trì mức lãi suất huy động thấp và giảm nhẹ ở các NHTM cổ phần nhà nước khiến cho lãi suất huy động chung trên thị trường vẫn duy trì ở mức thấp, chưa thể tăng lên mặt bằng mới như dự đoán trước đó.

Do lãi suất huy động thấp và khá ổn định đã khiến cho lãi suất cho vay không có biến động lớn. Mức lãi suất cho vay hiện phổ biến ở khoảng 7-9,5%/năm đối với kỳ cho vay ngắn hạn và 9,5-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Sự ổn định của lãi suất trên thị trường trong 3 tháng đầu năm được xem là do sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các yếu tố nền tảng, như: thanh khoản của hệ thống TCTD ngân hàng khá ổn định; tạm phát trong tầm kiểm soát, áp lực từ phía tỷ giá không lớn cùng với sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN cũng như sự ủng hộ tích cực từ phía các NHTM cổ phần nhà nước và các ngân hàng lớn.

– Tỷ giá USD/VND dao động trong biên độ nhỏ

Trong tháng 1/2019, mặc dù nhu cầu ngoại tệ tăng cao (tháng giáp Tết), nhưng tỷ giá USD/VND vẫn giữ tương đối ổn định. Từ tháng 2, ngay khi giao dịch trở lại sau nghỉ Tết, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ từ 38-48 VND/1USD, tương đương với mức tăng 0,17-0,21% so với cuối tháng trước. Tính đến ngày 10/3/2019, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 22.946 VND/1USD, tăng 121 đồng, tương đương với mức tăng 0,5% so với đầu năm 2019 (02/01/2019).

Hình 2: Diễn biến tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do 12 tháng qua

Nguồn: Bloomberg market

Trên thị trường tự do, với các yếu tố hỗ trợ như: (1) Sự suy yếu của đồng USD trên thị trường thế giới cùng với việc FED phát đi tín hiệu ngừng tăng lãi suất từ cuối tháng 1/2019 và (2) nguồn cung USD khá dồi dào khi dự trữ ngoại hối tiếp tục gia tăng (tháng 1 NHNN tăng dự trữ thêm 4 tỷ USD, tháng 2 tăng thêm hơn 1,3 tỷ USD); giải ngân vốn FDI tăng cao, đạt 9,8% trong 2 tháng đầu năm – mức cao nhất trong 3 năm qua; vốn FII ở mức cao khi các nhà đầu tư nước ngoài đã tăng mạnh giá trị mua ròng trên thị trường chứng khoán (chỉ tính riêng giá trị mua mới ở các quỹ ETF đã xấp xỉ 2 nghìn tỷ đồng); các TCTD tích cực bán ngoại tệ cho NHNN khi tỷ giá mua vào USD được NHNN nâng lên mức 23.200VND/1USD,… đã khiến cho tỷ giá USD/VND giao dịch tự do ít biến động. Hiện (ngày 10/3/2019), tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do được giao dịch ở mức khoảng 23.200, tăng nhẹ so với mức 23.195 tại thời điểm cuối tháng 1 (ngày 27/1/2019), và giảm so với mức 23.211 tại thời điểm sau Tết (ngày 11/2/2019).

– Tăng trưởng tín dụng thấp

Tăng trưởng tín dụng 2 tháng đầu năm 2019 ở mức thấp, đạt 0,77% so với cuối năm trước, ước tính tăng trưởng tín dụng quý I/2019 đạt 1,8% so với cuối năm trước – mức tăng thấp nhất trong 5 năm gần đây.

Hình 3: Tốc độ tăng trưởng tín dụng quý I các năm

Nguồn: NHNN

Kết quả này phản ánh hai vấn đề: (1) Ngay từ đầu năm 2019, Chính phủ và NHNN đã chủ động định hướng tăng trưởng tín dụng ở mức 14% – thấp hơn giai đoạn (năm 2018 mục tiêu tăng trưởng tín dụng là 17%, năm 2017 là 18%, năm 2016 là 18-20%). Điều này xuất phát từ thực tế khi bước vào giai đoạn 2016-2017 với mục tiêu đẩy nhanh quá trình phục hồi kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tín dụng để phát triển kinh doanh, chính sách tiền tệ đã có phần nới lỏng hơn trước đó, vì vậy tăng trưởng tín dụng trong 2 năm này ở mức cao. Tuy nhiên, từ năm 2018, nền kinh tế khá ổn định, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, tăng trưởng tín dụng được kiểm soát thành công mức thấp 14%, trong khi tỷ lệ đòn bẩy tín dụng đã lên tới 130% GDP – cao nhất trong 10 năm qua, vì vậy việc định hướng tăng trưởng tín dụng thấp hơn những năm trước là phù hợp và cần thiết. Bên cạnh dó, (2) khả năng cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng đang chịu nhiều áp lực khi tốc độ tăng vốn tự có của các NHTM rất thấp so với tốc độ cấp tín dụng đã kéo dài nhiều năm, trong khi các NHTM phải chuẩn bị điều kiện để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II.

Thu, chi ngân sách đạt kết quả tích cực

Thu ngân sách vẫn cùng nhịp độ so với cùng kỳ các năm trước. Ước thực hiện thu NSNN và viện trợ quý I/2019 đạt 23,51% so với dự toán năm 2019 (tương đương 331,8 nghìn tỷ đồng), cao hơn so với mức thu các năm trước (*****).

Chi NSNN vẫn duy trì ở mức thấp, ước thực hiện khoảng 313,2 nghìn tỷ đồng và tương ứng khoảng 19,18% so với dự toán năm 2019 (năm 2018 là 19,04%, năm 2017 là 20,49%, năm 2016 là 21,63% và năm 2015 là 22,55%).

Như vậy, nếu tính cả khoản chi trả nợ gốc thì thâm hụt ngân sách quý I/2019 khoảng 0,57% GDP.

Hình 4: Thu NSNN, chi NSNN và thâm hụt NSNN quý I qua các năm

Nguồn: MOF, số quý I/2019 là số ước thực hiện

Xét theo khoản mục thu của quý I/2019, thu thường xuyên ước đạt 23,27% dự toán năm 2019, tương ứng khoảng 306 nghìn tỷ đồng. Trong đó, thu thuế khoảng 273 nghìn tỷ đồng (khoảng 24,55% dự toán năm 2019) và thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế ước đạt 32,8 nghìn tỷ đồng (khoảng 16,23% dự toán năm 2019).

Hình 5:: Thu theo các khoản mục quý I qua các năm (% dự toán năm)

Nguồn: MOF, số quý I/2019 là số ước thực hiện

Xem xét thu thuế theo sắc thuế, có thể thấy một số sắc thuế có nguồn thu lớn như thuế GTGT hàng sản xuất trong nước, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân vẫn duy trì được mức thu tích cực. Theo đó, ước thực thiện thu thuế theo thuế GTGT hàng sản xuất trong nước, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đạt tương ứng 23,31% dự toán năm 2019 (tương ứng khoảng 61,8 nghìn tỷ đồng), 25,9% dự toán năm 2019 (tương ứng 71,8 nghìn tỷ đồng) và 26,2% dự toán năm 2019 (tương ứng 29,6 nghìn tỷ đồng).

Hình 6: Thu một số sắc thuế của quý I qua các năm (% so với dự toán năm)

Nguồn: MOF, số quý I/2019 là số ước thực hiện

Xét theo cơ cấu nguồn thu cho thấy thu từ DNNN vẫn đang có xu hướng giảm qua các năm. Cụ thể, ước thực hiện quý I/2019, thu DNNN chiếm khoảng 14,23% tổng thu NSNN, đây là mức giảm mạnh so với năm 2015 (25,79%) và so với cùng kỳ các năm 2018 chiếm 16,41%, 2017 chiếm 15,69% và năm 2016 chiếm 18,46%. Đối với thu từ DN FDI giảm hơn so với các năm trước đó, ước thực hiện thu NSNN từ DN FDI quý I/2019 chiếm 20,32% tổng thu (năm 2018 chiếm 20,53%, năm 2017 chiếm 20,74%, năm 2016 chiếm 22,89% và năm 2015 chiếm 25,54%). Ngược lại với hai khoản thu trên, khoản thu từ ngoài quốc doanh đang tăng dần qua các năm. Theo đó, ước thực hiện thu ngoài quốc doanh quý I/2019 chiếm khoảng 18,63% cao hơn so với cùng kỳ các năm trước đó (năm 2018 chiếm 18,14%, năm 2017 chiếm 17,6%, năm 2016 chiếm 19,34% và năm 2015 chiếm 15,2%)

Hình 7: Cơ cấu nguồn thu quý I qua các năm (% tổng thu NSNN)

(*)Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2018 so với cùng kỳ là 2,66%

(**)Tính đến hết tháng 2, CPI đã tăng 2,64% so với cùng kỳ

(***)Ngân hàng MB đang duy trì lãi suất huy động khoảng 6,3%/năm, mức lãi suất huy động cao nhất 8,7% thuộc về NH SHB.

(****)NH VietinBank giảm 0,3% ở hai kỳ hạn 6 và 12 tháng về mức lần lượt 5,5%/năm và 6,8%/năm. BIDV cũng giảm lãi suất kỳ hạn 5 tháng từ 5,5%/năm xuống còn 5,2%/năm. Tại VPBank, các khoản tiền gửi 6 tháng hiện chỉ

(*****)Thu ngân sách quý I qua các năm cụ thể là: năm 2018 là 23,38%, năm 2017 là 23,17%, năm 2016 là 22,72% và năm 2015 là 24,81%).

Chia sẻ bài viết:



Call Now